Thứ Hai, 11 tháng 4, 2016

Hạt giống đương quy

Công Ty TNHHSX&DVTM Tân Hương Đức , chuyên cung cấp hạt giống đương quy , giao hàng trên toàn quốc , chi tiết xin liên hệ . 104 Phan Đăng Lưu - Yên viên - Gia Lâm - Hà Nội
Điện thoại . 0962638076 / 0934416030 Email nguubang@gmail.com http://nguubang.com Zalo 0962638076

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016

Bán nghệ đỏ giống

Công Ty TNHHSX&DVTM Tân Hương Đức , bán nghệ đỏ giống và bao tiêu sản phẩm đầu ra , chi tiết về dịch vụ quý khách vui lòng liên hệ : 0962638076 / 0934416030 Email nguubang@gmail.com hoặc qua Zalo 0962638076 . Mr Đức

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

Tác dụng của sâm ba kích

Ba kích

BA KÍCH
Morinda officinalis How., họ Cà phê - Rubiaceae.
1. Tên khoa học: Morinda officinalis How.
2. Họ: Cà phê - Rubiaceae.
3. Tên khác: Dây ruột gà, ba kích thiên, liên châu ba kích, chẩu phóng xì, sáy cáy (Thái), 
thau tày cáy (Tày), chồi hoàng kim, chày kiàng đòi (Dao).
4. Mô tả thực vật:
Dây leo, sống nhiều năm, thân non màu tím, có lông, cành non có cạnh. 
Lá mọc đối, cứng nhọn, hình ngọn giáo thuôn dài 6-14cm, rộng 2,5-6cm, lúc non 
màu xanh, có lông dài ở mặt dưới, sau đó ít lông và có màu trắng mốc; lá kèm hình ống.
 Hoa nhỏ, màu trắng sau hơi vàng, 2-10 cánh hoa, 4 nhị, mọc thành cụm ở kẽ lá, 
đầu cành. Quả tròn, khi chín màu đỏ. Tránh nhầm với cây ba kích lông 
(M. cochinchinensis DC.) và cây mặt quỷ (M. villosa Hook.).
Mùa hoa: tháng 5-6, mùa quả: tháng 7-10.
5. Phân bố:
Cây mọc hoang ở vùng rừng thứ sinh, trung du và miền núi các tỉnh phía Bắc, 
dưới tán một số kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh,nay trở nên thứ sinh 
gồm cây bụi và dây leo chằng chịt hoặc ở bờ nương rẫy. Độ cao phân bố khoảng 100m 
so với mặt biển. Càng lên cao cây càng thưa dần, đến độ cao khoảng 100m thì hầu 
như hiếm gặp. Có nhiều nhất ở cá tỉnh Quảng Ninh, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Giang, Lạng Sơn.
6. Trồng trọt:
Ba kích ưa sáng, ưa ẩm và chịu bóng, mọc trên đất feralit đỏ vàng, có lượng mùn 
ở mức trung bình, tơi xốp và hơi chua, nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 21-23oC.
Trồng bằng rễ, cành bánh tẻ hay gieo ươm bằng hạt.
Vào khoảng tháng 3-4, khi thời tiết ấm dần, chọn những cành bánh tẻ ở 
cây Ba kích sống khoẻ, chặt thành từng đoạn 20-30cm, mỗi đoạn có 2-4 mắt.
 Có thể đem trồng ngay hoặc giâm và vườn ươm cho đến khi nảy mầm, ra rễ mới đem trồng.
Chọn các ruộng cao sát chân núi hay đất nương rẫy đã phát quang, đất còn 
màu mỡ, luon ẩm. Cuốc sâu, để ải, làm nhỏ đất, đánh luống cao 20-30cm,
 rộng 40cm nếu trồng thành 1 hàng hoặc rộng hơn nếu trồng thành 2 hàng.
 Trên luống cuốc thành các hố sâu 15cm, cách nhau 60cm (trồng được
 khoảng 30.000 khóm/ha). Bón lót phân chuồng mục (10 tấn/ha), trộn đều. Không 
dùng phân tươi vì có thể làm thối rễ. Mặc dù Ba kích là cây ưa sáng nhưng ở thời kỳ mới
 trồng, cây lại ưa bóng. Vì vậy cần làm giàn che cho từng luống, cao 0,7-1m, ở trên che 
bằng phên hay cỏ tranh, để lượng ánh sáng lọt qua khoảng 50%.
Thời gian trồng thích hợp từ tháng 3-4. Hom giống cắt xong đem xử lý ngay, mỗi hốc
 2-3 hom. Hom đặt nghiêng lấp đất chặt chỉ để hở 1-3cm. Nếu khong có giàn che, đặt xong 
phải phủ ngay bằng cây tế, guột hoặc rác. Thường xuyên tưới nước, giữ cho đất ẩm. 
Hom nảy mầm sau 10-15 ngày, tỷ lệ khoảng 60%.
Ba kích sinh trưởng  nhanh, chỉ sau 6-7 tháng trồng đã có thể vượt lên trên giàn che, vươn 
lên sống trong điều kiện chiếu sáng hoàn toàn. Lúc này cần làm giá thể cho cây. Mỗi năm chỉ 
cần làm cỏ và vun xới 1 lần. Vào thời kỳ hạn hán cần tưới thêm nước.
7. Thu hái chế biến:
Ba kích trồng được 3 năm có thể thu hoạch. Năng suất dược liệu là rễ phụ thuộc vào số năm
 trồng. Thông thường để nhiều năm, năng suất càng cao. Thời gian thu hoạch thường vào 
tháng 10-11. Cũng có thể vào mùa xuân để tận dụng lấy giống trồng ngay.
Dùng cuốc đào rộng xung quanh gốc, lấy toàn bộ rễ, rửa sạch đất cát. Phơi nắng liền 6-7 ngày
, sau đập nhẹ làm bẹt phần thịt rễ, tránh đập mạnh làm nát rễ. Sau đó lại phơi đến khô. 
Cắt thành từng đoạn dài 10cm, rút bỏ lõi, đựng trong bao cói. Để nơi khô ráo, thoáng gió,
 cần phải xông lưu huỳnh ngay trong kho để tránh mốc mọt.
8. Bộ phận dùng: Rễ phơi hay sấy khô của cây Ba kích (Morinda officinalis How.), họ Cà phê
 (Rubiaceae).
9. Thành phần hoá học:
Rễ tươi chứa chất đường, nhựa, acid hữu cơ, vitamin C, tinh dầu, anthraglycosid, 
phytosterol. Nhưng trong ba kích khô không thấy có vitamin C.
10. Tác dụng dược lý:
10.1. Tăng sức dẻo dai: Với phương pháp  chuột bơi, Ba Kích với liều 5-10g/kg dùng liên
 tiếp 7 ngày thấy có tác dụng tăng sức dẻo dai cho súc vật thí nghiệm (Trung Dược Học).
10.2. Tăng  sức đề kháng: dùng phương pháp  gây nhiễm độc cấp bằng Ammoni Clorua trên
 chuột nhắt trắng, với liều 15g/kg, Ba Kích có tác dụng tăng cường sức đề kháng chung của 
cơ thể đối với các yếu tố độc hại (Trung Dược Học).
10.3. Chống viêm: Trên mô hình gây viêm thực nghiệm ở chuột cống trắng bằng Kaolin với 
liều lượng 5-10g/kg, Ba Kích có tác dụng chống viêm rõ rệt (Trung Dược Học).
10.4. Đối với hệ thống nội tiết: thí nghiệm trên chuột lớn và chuột nhắt cho thấy Ba Kích
 không có tác dụng kiểu Androgen nhưng có thể có khả năng tăng cường hiệu lực của 
Androgen hoặc tăng cường quá trình chế tiết hormon Androgen (Trung Dược Học).
10.5. Nước sắc Ba Kích có tác dụng tương tự như ACTH làm cho tuyến ức chuột con bị teo
 (Trung Dược Học).
10.6. Nước sắc Ba Kích có tác dụng làm tăng co bóp của chuột và hạ huyết áp (Trung Dược 
Học).
10.7. Không có độc. LD50  của Ba Kích được xác định trên chuột nhắt trắng bằng đường 
uống là 193g/kg (Trung Dược Dược lý, Độc lý Dữ Lâm Sàng).
Rễ Ba kích chiết xuất bằng rượu có tác dụng giáng áp huyết; có tác dụng nhanh đối với 
các tuyến cơ năng; tăng cường não; chống ngủ ngon dùng Ba kích nhục (Trung Dược
 Dược lý, Độc lý Dữ Lâm Sàng).
Tác dụng đối với hệ nội tiết: Cho chuột và chuột nhắt uống Ba kích thiên thấy không có tác 
dụng giống như chất Androgen (Trung Dược Học).
Đối với những bệnh nhân nam có hoạt động sinh dục không bình thường, Ba Kích có tác
 dụng làm tăng khả năng gioa hợp, đặc biệt đối với những trường hợp giao hợp yếu và thưa.
 Ba Kích có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dầu nó không làm tăng đòi hỏi tình dục, 
không thấy có tác dụng kiểu Androgen. Tuy không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng trên thực tế 
có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới
 có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực. Còn các trường hợp tinh dịch ít, tinh trùng
 chết nhiều, không có tinh trùng, không xuất tinh khi giao hợp thì xử dụng Ba Kích chưa thấy kết
 quả (Tài Nguyên Cây Thuốc ViệtNam).
Đối với cơ thể những người tuổi già, những bệnh nhân không biểu hiện mệt mỏi, ăn kém, ngủ
 ít, gầy yếu mà không thấy có những yếu tố bệnh lý gây nên và 1 số trường hợp có đau mỏi các 
khớp, Ba Kích có tác dụng tăng lực rõ rệt, thể hiện qua những cảmgiác chủ quan như đỡ 
mệt mỏi, ăn ngon, ngủ ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân nặng, tăng cơ lực.
 Còn đối với bệnh nhân đau mỏi các khớp thì sau khi dùng Ba Kích dài ngày, các triệu 
chứng đau mỏi giảm rõ rệt (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
11. Công năng: Ôn thận, tráng dương, cường tráng cân cốt, khử phong thấp
12. Công dụng: Chữa liệt dương, di tinh, phụ nữ khó có thai, kinh nguyệt chậm, bế kinh,
 đau lưng mỏi gối...
13. Công dụng:
Ba kích dược dùng chữa dương uỷ, phong thấp cước khí, gân cốt yếu mềm, lưng gối mỏi đau.
 Trong nhân dân, Ba kích là vị thuốc  có tác dụng bổ trí não và tinh khí, chữa xuất tinh sớm, di 
mộng tinh, liệt dương, kinh nguyệt chậm hoặc bế kinh, phong thấp, huyết áp cao.
Ngày dùng 8-16 g, dạng thuốc sắc, cao lỏng, viên chế từ cao hoặc rượu thuốc. Người ta 
thường đào củ cây mọc hoang về nấu với thịt gà ăn hoặc ngâm rượu uống để bồi bổ sức khoẻ.
Không dùng khi rong kinh, kinh sớm. Người âm hư quá vượng đại tiện táo kết không nên dùng.
14. Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-16g dưới dạng thuốc sắc hay rượu thuốc. Phối hợp
 trong các phương thuốc bổ thận.
15. Bài thuốc:
15.1. Trị liệt dương, ngũ lao, thất thương, ăn nhiều, hạ khí: Ba kích thiên, Ngưu tất (sống) 
 đều 3 cân ngâm với 5 đấu rượu, uống (Thiên Kim Phương).
15.2. Trị phụ nữ tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều, xích bạch đới hạ: Ba kích 120g, Lương
 khương 20g, Tử kim đằng 640g, Thanh diêm 80g, Nhục quế (bỏ vỏ)160g, Ngô thù du 160g. 
Tán bột. Dùng rượu hồ làm hoàn. Ngày uống 20 hoàn với rượu pha muối nhạt (Ba Kích Hoàn
 - Cục Phương).
15.3. Trị lưng đau do phong hàn, đi đứng khó khăn: Ba kích 60g, Ngưu tất 120g, Khương 
hoạt 60g, Quế tâm 60g, Ngũ gia bì 60g, Đỗ trọng (bỏ vỏ, sao hơi vàng) 80g, Can khương
 (bào) 60g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, uống với rượu ấm (Ba Kích Hoàn - Thánh Huệ Phương)
.
15.4. Trị tiểu nhiều: Ích trí nhân, Ba kích thiên (bỏ lõi), 2 vị chưng với rượu và muối, Tang phiêu
 tiêu, Thỏ ty tử (chưng  với rượu). Lượng bằng nhau. Tán bột. Dùng rượu chưng hồ làm hoàn
 to bằng hạt ngô đồng lớn, mỗi lần uống 12 viên với rượu pha muối hoặc sắc thành thang
 uống với muối ( Kỳ Hiệu Lương Phương).
15.5. Trị bạch trọc: Thỏ ty tử (chưng rượu 1 ngày, sấy khô), Ba kích (bỏ lõi, chưng rượu), 
Phá cố chỉ (sao), Lộc nhung, Sơn dược, Xích thạch chi, Ngũ vị tử đều 40g. Tán bột, Dùng 
rượu hồ làm hoàn, uống lúc đói với nước pha rượu (Phổ Tế Phương).
15.6. Trị bụng đau, tiểu không tự chủ: Ba kích (bỏ lõi), Nhục thung dung, Sinh địa đều 60g, Tang
 phiêu tiêu, Thỏ ty tử, Sơn dược, Tục đoạn đều 40g, Sơn thù du, Phụ tử (chế), Long cốt,
 Quan quế, Ngũ vị tử đều 20g, Viễn chí 16g, Đỗ trọng (ngâm rượu, sao) 12g, Lộc nhung 4g. 
Tán bột, làm hoàn 10g. Ngày uống 2-3 hoàn (Ba Kích Hoàn - Chứng Trị Chuẩn Thằng).
15.7. Trị mạch yếu, mặt trắng nhạt, buồn sầu ca khóc: Ba kích (bỏ lõi), Hồi hương (sao), 
Nhục thung dung (tẩm rượu), Bạch long cốt, Ích trí nhân, Phúc bồn tử, Bạch truật, Mẫu lệ, Thỏ
 ty tử, Cốt toái bổ (bỏ lông), Nhân sâm đều 40g. Tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-20g 
(Ba Kích Hoàn - Y Học Phát Minh).
15.8. Trị Thận bị hư hàn, lưng và gối đau, liệt dương, tiểu nhiều, không muốn ăn uống, xương
 khớp yếu, đứng ngồi không có sức, bàng quang bị yếu lạnh, vùng rốn và bụng đầy trướng:
 Ba kích 30g, Bạch linh 22g, Chỉ xác 22g, Hoàng kỳ 22g, Lộc nhung 30g, Mẫu đơn 22g, Mộc 
hương 22g, Ngưu tất 22g, Nhân sâm22g, Nhục thung dung  30g, Phụ tử  30g, Phúc bồn tử 22g
, Quế tâm 22g, Sơn thù 22g, Tân lang 22g, Thạch hộc 30g, Thục địa 30g, Thự dự 22g, Tiên linh
 tỳ 22g, Trạch tả 22g, Tục đọan 22g Viễn chí 22g, Xà sàng tử 22g. Tán bột, hoà mật làm hoàn
. Ngày uống 16 - 20g với rượu nóng, lúc đói (Ba Kích Hoàn - Thái Bình Thánh Huệ Phương).
15.9. Trị thận bị hư lao, lưng và chân đau, chảy nước mắt sống, hoảng sợ, khát, ăn uống 
không tiêu, bụng ngực thường đầy trướng, tay chân tê đau, nôn ra nước chua, bụng dưới lạnh
 đau, tiểu són, táo bón: Ba kích 30g, Bá tử nhân  22g, Bạch linh 22g, Đỗ trọng 22g, Ngũ gia
 bì 22g, Ngưu tất 22g, Nhục thung dung 30g, Phòng phong 22g, Phúc bồn tử 22g, Thạch hộc
 22g, Thạch long nhục 22g, Thạch nam 22g, Thiên hùng 30g, Thiên môn 40g, Thỏ ty tử  30g,
 Thục địa30g, Thự dự  22g, Trầm hương 30g, Tục đoạn 30g, Tỳ giải22g, Viễn chí 22g, Xà
 sàng tử  22g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, ngày uống 16 -20g với rượu nóng, lúc đói
 (Ba Kích Hoàn - Thánh Huệ Phương).
15.10. Trị nguyên khí bị hư thoát, mặt xạm đen, miệng khô, lưởi dính, hay mơ, hoảng sợ, chảy
 nước mắt sống, tai ù như ve kêu lưng nặng, đau, các khớp xương đau nhức, âm hư, ra mồ hôi
 trộm tay chân không có sức, tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều xích bạch đới hạ: Ba kích
 90g, Lương khương 180g, Ngô thù 120g, Nhục quế 120g, Thanh diêm 60g, Tử kim đằng 
500g.  Tán bột, trộn với rượu nếp làm hoàn. Ngày uống 16 - 20g với rượu hoà ít muối hoặc
 nước muối loãng (Ba Kích Hoàn - Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương).
15.11. Trị liệt dương: Ba kích 30g, Đỗ trọng 30g, Ích trí nhân 30g, Ngũ vị tử 30g, Ngưu tất 30g, 
Nhục thung dung 60g, Phục linh 30g, Sơn dược 30g, Sơn thù 30g, Thỏ ty tử 30g, Tục đoạn
 30g, Viễn chí  30g, Xà sàng tử 30g. Tán bột. Luyện mật làm hoàn, ngày uống 12 - 16 g với
 rượu, lúc đói (Ba Kích Hoàn - Ngự Dược Viện).
15.12. Trị bụng ứ kết lạnh đau, lưng đau, gối mỏi, 2 chân yếu, khớp xương đau, chuột rútû,
 thận hư, liệt dương : Ba kích 18g, Đương quy 20g, Khương hoạt 27g, Ngưu tất 18g,   Sinh
 khương  27g, Thạch hộc 18g, Tiêu 2g.   Giã nát, cho vào bình, thêm 2 lít rượu vào, đậy kín,
 bắc lên bếp, nấu 1 giờ, sau đó ngâm trong nước lạnh cho nguội. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15  -
  20ml (Ba Kích Thiên - Thánh Tế Tổng Lục).
15.13. Bổ thận, tráng dương, tăng trưởng cơ nhục, dưỡng sắc đẹp: Ba kích (bỏ lõi )   60g, 
Cam cúc hoa 60g, Câu kỷ tử 30g, Phụ tử (chế) 20g, Thục địa 46g, Thục tiêu 30g. Tán bột, cho
 vào bình, ngâm với 3 lít rượu. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 -  20ml,  lúc đói 
(Ba Kích Thục Địa Tửu -  Nghiệm Phương)
15.14. Trị sán khí do Thận hư: Ba kích thiên, Hoàng bá, Quất hạch, Lệ chi hạch, Ngưu tất,
 Tỳ giải, Mộc qua,  Kim linh tử,  Hoài sơn, Địa hoàng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
15.15. Trị liệt dương: Ba kích thiên, Bá tử nhân, Bổ cốt chỉ, Câu kỷ tử , Lộc nhung, Ngũ vị tử,
 Nhục thung dung, Sơn thù du (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
15.16. Trị mộng tinh: Ba kích thiên, Bá tử nhân, Hoàng bá, Liên tu, Lộc giác, Phúc bồn tử, 
Thiên môn, Viễn chí (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
15.17. Trị liệt dương, di tinh, tiết tinh do Thận dương hư:  Thỏ ty tử, Nhục thung dung 
(Trung Dược Học).
15.18. Trị tiểu nhiều, tiểu không tự chủ do Thận dương hư: Bổ cốt chỉ, Phúc bồn tử 
(Trung Dược Học).
15.19. Trị gân cơ sưng đau, gân cơ suy yếu, teo cơ, khớp đau mạn tính do Thận hư:  Đỗ trọng,
 Ngưu tất, Tục Đoạn (Trung Dược Học).
15.20. Trị liệt dương, tảo tinh, tiết tinh, lưng đau, vô sinh (ở nữ) do Thận dương hư: Ba kích 
thiên 12g, Ngũ vị tử 6g, Nhân sâm 8g, Thục địa 16g, Nhục thung dung, Long cốt, Cốt toái bổ
 đều 12g. Tán bột, trộn mật làm hoàn 12g. Ngày uống 2-3 lần  (Ba Kích Thiên Hoàn – Lâm Sàng
 Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
15.21. Trị lưng đau, di tinh, hoạt tinh do Thận hư: Ba kích thiên, Đảng sâm, Phúc bồn tử,
 Thỏ ty tử, Thần khúc đều 12g, Sơn dược 24g. Tán bột, luyện mật làm hoàn. 
Mỗi lần uống 12g, ngày 2-3 lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
15.22. Trị người lớn tuổi lưng đau, chân tê, chân yếu, chân mỏi: Ba kích thiên, Xuyên tỳ giải,
 Nhục thung dung, Đỗ trọng, Thỏ ty tử, lượng bằng nhau, Lộc thai 1 bộ. Tán nhuyễn, trộn với
 mật làm hoàn. Mỗi lần  uống 8g, ngày 2-3 lần với nước ấm  (Kim Cương Hoàn - Lâm Sàng
 Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
15.23. Trị phong thấp đau nhức, cước khí, phù: Ba kích, Đỗ trọng, Ngưu tất,
 Tục đoạn đều 12g, Tang ký sinh 10g, Sơn thù nhục 8g, Hoài sơn 16g. Sắc uống
 (Ba Kích Khu Tý Thang - Trung Dược Ưùng Dụng Lâm Sàng).
15.24. Trị huyết áp cao thời kỳ tiền mãn kinh: Ba kích thiên, Tiên mao, Hoàng bá,
 Dâm dương hoắc, Tri mẫu, Đương qui, mỗi thứ 20 - 28g, sắc uống 
(Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
http://nguubang.com/






Liên hệ mua hàng 0962638076

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

bán rễ bồ quân , rễ mùng quân

Rể Cây Bồ quân chửa bệnh (ung thư) Bị sưng Nhiếp Hộ Tuyến

Trái bồ quân



Kính thưa  quý anh,
Đa số cựu SVSQ chúng ta đã đến tuổi sưng nhiếp hộ tuyến (prostate).  Năm ngoái tôi cũng bị bệnh này,
 bác sĩ chuyên khoa yêu cầu đặt ống thông tiểu tiện.
    
Kính,
Cựu SVSQ : Võ Nhẫn  K20 



Tôi nói chuyện với một người bạn, anh ta khuyên không nên làm theo lời bác sĩ.  Trước đây anh bạn 
của tôi cũng đã điều trị tại bác sĩ chuyên khoa này, sau nhiều lần khám và thử nghiệm, bác sĩ xác định
 bạn tôi bị ung thư nhiếp hộ tuyến  và yêu cầu giải phẫu. Bạn tôi từ chối  giải phẫu vì mẹ anh ở VN gởi 
cho anh một loại thuốc Nam: rễ cây Bần Quân (tiếng Trung, còn trong Nam gọi là cây  Bồ Quân).
Hằng ngày, anh nấu trong nồi  đất một số lượng rễ cây rất ít (tỗng cọng chỉ lớn bằng ngón tay trỏ)
 với 2 lít nước chỉ lấy một ly thuốc.  Uống  khoảng  một tháng, anh trở lại gặp bác sĩ để thử nghiệm
 lại nhiếp hộ tuyến.  Bác sĩ ngạc nhiên  báo cho anh ta  không thấy còn có ung thư nhiếp hộ tuyến. 

Anh bạn cho tôi rễ cây Bần Quân để uống thử.  Thật hiệu nghiệm:  Tôi uống buổi sáng, đến tối đã đi 
tiểu tiện thoải mái hơn, không còn khó khăn như trước đó  24 giờ. Tôi  tiếp tục uống khoảng một tháng
, nay căn bệnh sưng nhiếp hộ tuyến hình như đã biến mất.

Tôi phổ biến cho nhiều anh em bạn bè  trong vùng.  Hầu hết những anh em  có bệnh này trị liệu 
bằng rễ cây Bần Quân đều đạt kết quả hết sức khả quan. Hiện có vài anh ở vùng này đang trị bệnh
 bằng rễ cây Bần Quân cũng đem lại kết quả tốt.

Rễ này không bán trên thị trường mà phải đến các nhà có cây Bần Quân ở VN để mua, đào, phơi khô.
Trên đây hoàn toàn do kinh nghiệm bản thân và  kinh nghiệm của anh em bạn bè  mà tôi ghi nhận được 
 chứ  không thông qua một cuộc nghiên cứu nào cả.  Xin anh em tuỳ nghi.
Bác nào mún mua rễ loại cây này xin liên hệ : Công Ty TNHHSX&DVTM Tân Hương Đức 
Thôn Lý Nhân - Xã Dục Tú - Đông Anh - Hà Nôi 
Tell 0466872314 Call 0962638076 Email nguubang@gmail.com , bán và giao hàng tận nơi trên toàn quốc
 . http://nguubang.com/

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

Củ Đương Quy - Nhân sâm của phụ nữ

Đương quy là đầu vị trong các bài thuốc chữa bệnh phụ nữ, có tác dụng dưỡng huyết, hoạt huyết, tăng cường sức khỏe, giúp phụ nữ tăng cường dinh dưỡng tuyến vú, tăng cường khả năng sinh lý, làm trẻ hóa cơ thể. 

Đương quy trị bệnh về huyết

Đương quy có tên khoa học là Angelica sinensis (Oliv.) Diels, họ Cần (Apiaceae). Đây là cây thảo sống nhiều năm, cao 40-60cm. Thân hình trụ, có rãnh dọc màu tím. Lá mọc so le, xẻ lông chim 3 lần; cuống dài 3-12cm, có bẹ to ôm thân; lá chét phía dưới có cuống, các lá chét ở ngọn không cuống, chóp nhọn, mép khía răng không đều. Cụm hoa tán kép gồm 12-36 tán nhỏ dài ngắn không đều; hoa nhỏ màu trắng hay lục nhạt. Quả bé, dẹt, có rìa màu tím nhạt. Mùa hoa quả tháng 7-9.
nhan sam cua phu nu
Cây đương quy
Rễ đương quy là bộ phận được dùng để làm thuốc chữa bệnh. Rễ dài 10 – 20 cm, gồm nhiều nhánh, thường phân biệt 3 phần: Phần đầu gọi là quy đầu, phần giữa gọi là quy thân, phần dưới gọi là quy vĩ. Đường kính quy đầu 1,0 – 3,5 cm, đường kính quy thân và quy vĩ 0,3 – 1,0 cm. Mặt ngoài màu nâu nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc. Mặt cắt ngang màu vàng ngà, có vân tròn và nhiều điểm tinh dầu. Mùi thơm đặc biệt, vị ngọt, cay và hơi đắng.
Tại Việt Nam đương quy được trồng nhiều ở Sa Pa (Lào Cai), Ngọc Lĩnh (Kontum), Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc) và Đà Lạt (Lâm Đồng).
Theo y học cổ truyền, đương quy có vị ngọt, cay, hơi đắng, tính ấm, vào 3 kinh tâm, can, tỳ; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, chỉ huyết. Đông y sử dụng ương quy để chữa bệnh thiếu máu, kinh nguyệt không đều, đau kinh, bế kinh, huyết ứ trệ, phụ nữ trước khi đẻ vài ngày uống nước sắc đương quy sẽ dễ đẻ, giảm đau khi đẻ do giảm co thắt cổ tử cung.
Hai từ “đương quy” trong ngôn ngữ Hán Việt có nghĩa “về chỗ cần về”, vị thuốc này có thể điều khí, nuôi huyết, làm cho khí và huyết về đúng chỗ. Khi uống đương quy vào tỳ vị chỉ hỗ trợ tiết dịch vị, khi đến ruột mới hấp thu vào máu, đồng thời kích thích niêm mạc ruột hấp thu nhanh hơn, khi vào trong máu kích thích hấp thu oxy tăng nhanh, làm trẻ hóa tế bào máu. Đương quy có thể “hành”, có thể “giữ”, huyết trệ có thể tán, huyết hư có thể bổ, huyết táo có thể nhuận, huyết tan có thể về.
DUONGQUI
Rễ đương quy nhìn rất giống nhân sâm
Theo nghiên cứu hiện đại, đương quy chứa nhiều nhóm hoạt chất quí như: Tinh dầu, trong đó quan trọng nhất là ligustilid có tác dụng làm tăng tuần hoàn máu và n-butylphtalid chữa đột quị do thiếu máu não cục bộ cấp tính; polycacharid tăng cường miễn dịch và ức chế khối u; các coumarin có tác dụng hoạt huyết; phytoestrogen làm giảm tác dụng kiểu oxytoxin của hormone tuyến yên, ức chế co bóp tử cung, chống viêm và hạ huyết áp; acid hữu cơ ferulic có tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu.
Ở Mỹ, trong bộ “healthnotes”, đương quy đôi khi còn đươc gọi là “nữ nhân sâm” (female ginseng) được chỉ định để chữa trị bệnh rối loạn kinh nguyệt, tim mạch, huyết áp cao và tăng khả năng thích nghi của cơ thể.

Bài thuốc sử dụng đương quy

Chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều: Đương quy 8g, thục địa 12g, bạch thược 8g, xuyên khung 6g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Bổ máu, dùng cho phụ nữ sau khi sinh đẻ, thiếu máu: Đương quy 8g, quế chi, sinh khương, đại táo mỗi vị 6g, bạch thược 10g, đường phèn 50g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.
1361327387-dieu-tri-benh-duong-huyet--2-
Đương quy rất tốt cho phụ nữ
Chữa viêm quanh khớp vai, vai và cánh tay đau nhức không giơ tay lên được: Đương quy 12g, ngưu tất 10g, nghệ 8g sắc uống. Kết hợp với luyện tập giơ tay cao lên đầu hàng ngày để có kết quả.
Nhuận táo thông tiện: Đương quy 20g, đại hoàng 20g, đào nhân 63g, ma nhân 63g, khương hoạt 20g. Nghiền thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g, chiêu với nước.
Do trong thành phần có chứa tinh dầu, mùi vị rất thơm ngon, đương quy còn được sử dụng trong chế biến các món ăn hằng ngày, vừa có giá trị dinh dưỡng cao, vừa có tác dụng chữa bệnh như dùng đương quy thái mỏng nấu với thịt gà, ăn tuần 2 lần giúp kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon lại bổ máu. Hoặc dùng đương quy, thục địa, kỷ tử, ý dĩ ninh với móng giò lợn, tuần ăn 2 – 3 lần để bổ máu và hoạt huyết, giúp phụ nữ sau đẻ chóng hồi phục sức khỏe, có nhiều sữa.
Kiêng kỵ: Dùng cẩn thận trong trường hợp âm hư nội nhiệt, tiêu chảy.

Chi tiết xin quý khách liên hệ : Công Ty TNHHSX&DVTM Tân Hương Đức 

Thôn Lý Nhân - Dục Tú - Đông Anh - Hà Nội
Tell 0466872314 Call 0962638076 Email nguubang@gmail.com http://nguubang.com/

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Công dụng tăng "bản lĩnh đàn ông" từ cây hoa đất

Hoa đất là loại giàu dược tính. Bộ phận sử dụng làm thuốc là củ của hoa đất, sau khi thu hoạch về loại bỏ tạp chất, rửa sạch để ráo nước, thái nhỏ, phơi khô trong bóng râm (âm can) để dùng dần.

Công dụng tăng "bản lĩnh đàn ông" không ngờ từ cây hoa đất   1
Cây hoa đất
Hoa đất còn nhiều tên gọi khác như cây không lá, ký sinh hoàn, xà cô, tỏa dương, củ ngọc núi.
Hoa đất không có lục diệp tố, khác với các loài đã biết ở khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, hoa đất cũng được tìm thấy ở Kon Tum. Có thông tin 2 loài hoa đất khác cũng được phát hiện ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Phước.

Hoa đất là loại dược thảo trông như một cây nấm ký sinh trên rễ của những cây gỗ khác thường thấy ở các loại thuộc họ đậu hoặc dâu tằm hay các loài tre… Hoa đất cao 8-15 cm, củ sần sùi. Thân ký sinh là cuống cụm hoa mang 6-10 lá dạng vảy, phiến lá hình mũi mác dài 1,5-2 cm, rộng 1-1,5 cm.
Hoa đơn tính, khác gốc, hợp thành bông nạc. Cả cụm hoa đực và cụm hoa cái đều hình trứng hay hình đầu. Hoa đực không có cuống rõ, khối phấn bị ép ngang. Hoa cái mọc xung quanh chân vảy bảo vệ, vảy hình trứng cụt đầu có 1 vòi nhụy.
Hoa đất mỗi năm trổ hoa 1 lần vào mùa đông xuân, từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau rồi tàn lụi dần. Hoa rất thơm, tỏa hương vào chiều tối và sáng sớm. Hoa đất không có quả, sinh sản vô tính, tức tái sinh bằng cách đẻ nhánh.
Hoa đất được sử dụng riêng hoặc phối hợp cùng các vị thuốc khác dưới dạng thuốc sắc hay ngâm với rượu uống. Hoa đất thường được sử dụng làm thuốc bổ máu, kích thích ăn ngon miệng, phục hồi sức khỏe nhanh, dùng trị các chứng nhức mỏi chân tay, người mới ốm dậy, phục hồi sức khỏe cho phụ nữ sau sinh…

Xin giới thiệu vài phương thuốc tiêu biểu từ hoa đất.
Ăn ngủ kém, da xanh. Biểu hiện mệt mỏi, cơ thể suy nhược. Dùng hoa đất 20 g, sắc lấy nước đặc chia 2 - 3 lần uống trong ngày.

Phụ nữ sau khi sinh. Dùng thuốc hoa đất sắc uống, rất nhanh hồi phục sức khỏe. Hoa đất 15 -
20 g, ích mẫu thảo khô 30 g, cho vào 3 chén nước sắc còn 1 chén. Sau đó sắc nước 2, nước 3. Đổ lẫn 3 chén thuốc của 3 lần, sắc lại còn 1 chén, chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Cần uống liền 30 ngày sẽ cho kết quả rất tốt.
Nam sinh lý suy nhược. Biểu hiện rối loạn cương, người mệt mỏi. Dùng hoa đất 100 g, rễ đinh lăng 100 g, ba kích nhục 80 g, dâm dương hoắc (sao với mỡ dê) 50 g, đương quy 50 g, hà thủ ô đỏ 50 g, câu kỷ tử 50 g, thục địa 50 g, bạch tật lê 50 g, trần bì 30 g. Tất cả ngâm với 5 lít rượu gạo có độ cao, sau 20 ngày là sử dụng. Ngày uống 2 lần vào trước hoặc sau bữa ăn hay trước lúc ngủ, mỗi lần 30 ml.
Chữa liệt dương. Hoa đất 12 g, thục địa 15 g, sơn thù 15 g, sơn dược 15 g, phục linh 12 g, câu kỷ tử 15 g, nhục thung dung 12 g, dâm dương hoắc 30 g, ba kích 12 g, bạch nhân sâm 12 g, lộc nhung 6 g, táo nhân (sao) 12 g, thỏ ty tử 12 g, thiên môn đông 9 g, cam thảo 9 g. Tán bột mịn, làm hoàn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 hoàn 9 g, chiêu với nước trắng, kiêng ăn các thức tanh lạnh trong thời gian sử dụng thuốc.
Bổ thận, trị đau lưng. Kể cả đau nhức xương khớp, gối mỏi, đại tiện khô kết. Hoa đất 16 g, hoàng bá 16 g, quy bản 16 g, hoàng cầm 16 g, đỗ trọng 16 g, ngưu tất 16 g, tri mẫu 16 g, địa hoàng 10 g, đương quy 10 g, phá cố chỉ 8 g, tục đoạn 8 g. Tán bột mịn trộn rượu, hồ làm hoàn, mỗi lần uống 15 - 20 g, chiêu với nước muối loãng, ngày 2 lần.
Trị hoạt tinh, di tinh, sinh lý yếu mệt. Hoa đất 120 g, tang phiêu tiêu 120 g, long cốt 40 g, bạch phục linh 40 g. Tán bột mịn, trộn đều làm hoàn, mỗi lần uống 15 - 20 g, chiêu với nước muối loãng, ngày 2 lần.

Thuốc bổ thận tráng dương. Hoa đất 10 g, nhân sâm 12 g, hoàng kỳ 16 g, đỗ trọng 16 g, nhục thung dung 8 g, thỏ ty tử 12 g, xa sàng tử 12 g, phúc bồn tử 12 g, đương quy 12 g, bạch truật 12 g, thục địa 16 g, ba kích 12 g, dâm dương hoắc 12 g, lộc nhung 12 g, câu kỷ tử 12 g, đại táo 5 quả, long nhãn 10 g, cam thảo 6 g, xuyên khung 8 g, hà thủ ô đỏ 12 g. Sắc ngày 1 thang lấy 3 lần nước thuốc rồi làm lại còn 250 ml, chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống liền 7 thang. Nếu uống được rượu thì có thể dùng phương trên nhưng mỗi vị cần gấp 5 lần cho cả thang thuốc, ngâm với 5 lít rượu trong 30 ngày rồi mới gạn rượu và cho vào 500 ml mật ong trộn đều để uống dần. Ngày uống 3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 25 - 30 ml.

Trị chứng xuất tinh sớm. Hoa đất 20 g, thục địa 30 g, đỗ trọng 30 g, đuôi heo 150 g, gừng tươi
15 g, đại táo 8 quả. Đuôi heo làm sạch cắt khúc, gừng tươi giã nát, các vị rửa sạch cho cả vào nồi hầm nhỏ lửa, sau 3 giờ lấy ra ăn cái, uống nước.
 Chi tiết xin quý khách liên hệ : Công Ty TNHHSX&DVTM Tân Hương Đức . Thôn Lý Nhân - Xã Dục Tú - Đông Anh - Hà nội
Tell 0466872314 Call 0962638076 Email nguubang@gmail.com
http://nguubang.com/

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

bán hà thủ ô đỏ sapa

Bán Hà thủ ô đỏ sapa đã chế giá 220.000 / kg
Hà thủ ô đỏ phơi khô chưa chế giá 200.000 / kg
Chi tiết liên hệ : 0466872314 Call 0962638076 http://nguubang.com/